PDA

View Full Version : 12 con giáp và những năm tháng cuộc đời


Ron
29-10-09, 09:16 AM
Sinh vật sống trên trái đất trong đó bao gồm cả loài người chúng ta đều bị chi phối bởi những quy luật của vũ trụ. Mà vũ trụ được hình thành bởi không gian và thời gian. Vì vậy ta có thể nói rằng chúng ta đang bị không gian và thời gian chi phối.
Trái đất xoay quanh mặt trời một vòng là một năm, bằng 365 ngày. Trong một năm có bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông thay nhau luân chuyển, trong mùa có tháng, trong tháng có ngày và đêm.
Dưới ánh sáng mặt trời, vạn vật trên trái đất đều tìm được sự sống và sinh sôi, nảy nở. Các thiên thể trong vũ trụ luôn vận hành theo một quy luật nhất định, theo chu kỳ tuần hoàn. Tứ hiện tượng tròn, khuyết của mặt trăng đến mùa Xuân hoa nở, mùa Thu kết trái và mùa Xuân năm sau lại tới, cây cối lại nở hoa. Chính những hiện tượng lặp đi lặp lại ấy là quy luật vận hành của thiên thể (trong đó có trái đất). Người Trung Quốc cổ đại đã quan sát những quy luật chu kỳ tuần hoàn của thiên thể, từ đó phát minh ra lịch. Vào khoảng năm 1100 trước Công Nguyên, người Trung Quốc cổ đại (thời Ân Thương) đã biết tính lịch bằng cách kết hợp giữa Thiên Can và Địa Chi.
Thiên Can gồm có: Giáp, ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.
Địa chi gồm có: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
Thiên Can và Địa Chi tuần tự kết hợp với nhau từ Giáp Tý, ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Ty, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân,
Quý Dậu, Giáp Tuất, ất Hợi, Bính Tý... 10 can và 12 chi kết hợp với nhau như vậy 60 năm thì hết một vòng gọi là một hoa giáp, đến năm thứ 61 lại là năm Giáp Tý.
Lịch ra đời đã góp phần xác lập khái niệm về thời gian. Tiếp đó, người Trung Quốc cổ đại cũng đã phát hiện thấy "chất" của thời gian.
Người phương Đông, đặc biệt là người Trung Quốc cổ đại rất coi trọng tới vấn đề "chất" của thời gian. Một tiếng đồng hồ cua mùa Hạ và một tiếng đồng hồ của mùa Đông, tuy có độ dài thời gian bằng nhau nhưng tính chất của chúng lại khác nhau rất nhiều.
Ví dụ vào lúc hai giờ chiều giữa mùa Hè và hai giờ chiều giữa mùa Đông, tuy cùng trong một thời gian (hai giờ chiều) và cùng trên một địa điểm nhưng vào lúc hai giờ chiều giữa mùa hè, trời nóng như thiêu như đốt, còn hai giờ chiều giữa mùa Đông, dù bạn có đứng ra giữa trời đầy ánh
nắng thì vẫn cảm thấy rét run. Nếu vào giữa hai thời điểm ấy bạn quan sát hoa cỏ quanh mình, bạn sẽ càng thấy sự khác biệt nhau rất rõ của chúng. Một năm có 365 ngày là quãng thời gian để trái đất bay quanh mặt trời đủ một vòng, nhưng các năm cũng có sự khác biệt nhau rất rõ. Có năm thì được mùa, có năm lại mất mùa, đói kém. Chính những hiện tượng này đã giúp người Trung Quốc cổ đại nhận thức được chất của thời gian.
Cùng là một khái niệm về thời gian nhưng người phương Tây chỉ coi thời gian là một khái niệm của độ dài" còn người Trung Quốc lại nghĩ đến "chất" của nó, nhưng điểm không giống nhau này cũng được thể hiện ở thuật chiêm tinh của người phương Tây và thuật chiêm tinh của người phương Đông.

II. SỰ RA ĐỜI CỦA MƯỜI HAI CON GIÁP
Sau khi người Trung Quốc cổ đại phát hiện chất của thời gian, liền đó họ lại náy sinh ra một nghi vấn mới. Vậy vấn đề chất của thời gian rốt cuộc có ảnh hưởng gì tới đới sống, tư chất tính cách của mỗi con người hay không? Họ liền ngược thời gian hàng trăm, hàng ngàn năm, tìm tới thời điểm của các cuộc chiến tranh, những năm được mùa, mất mùa, địa chấn, lụt lội để tìm hiểu, tính toán và cuối cùng đã phát hiện ra những sự kiện trên đều xảy ra theo một chu kỳ nhất định của nó.
Đồng thời, họ cũng dần phát hiện thấy tính cách chung của những người sinh ra trong cùng một năm.
Tuy mọi sinh vật trên địa cầu đều phải chịu ảnh hưởng bức xạ vũ trụ (bức xạ của các thiên thể), cộng thêm tác động của thời gian. Chỉ với hai điểm này, người ta có thể tính ra những người được sinh ra trong cùng một năm có những tính cách gì giống nhau. Cùng với sự phát triển của ngành thống kê học, các nhà khoa học chứng minh: Có quy luật về tính cách và vận mệnh con người do sự chi phối của quy luật tự nhiên.
Người Trung Quốc cổ đại đã sắp xếp Thiên can và Địa chi vào lịch, gọi những người sinh vào năm Tý là cầm tinh con chuột, năm Sửu là cầm tinh con trâu, v.v... để hoàn thành hình tượng của mười hai con giáp như ngày nay. Mười hai con giáp xuất hiện sớm nhất trong Bát quái của Kinh dịch, đó là phương pháp phỏng sinh ghi năm còn gọi là cầm tinh con giáp. Dưới đây xin giới thiệu đôi nét cơ bản quan niệm của người phương Đông xưa về tính cách của con người theo các tuổi và sự sinh khắc giữa các tuổi theo Ngũ Hành Bát Quái.

1.Tuổi Chuột:
Vui vẻ xởi lởi dễ gần, dễ mến nhưng hay lo vặt vãnh nên cũng dễ cáu giận. Tự tin và tự trọng.
Thích làm đẹp làm sang cho bản thân nhưng trong khuôn khổ cho phép. Tuổi Chuột hợp với các tuổi Khỉ, Rồng, Trâu, ky các tuổi Rắn, DOG và Lợn, đặc biệt tối kỵ tuổi Ngựa.

2. Tuổi Trâu:
Là người nhẫn nại, ít lời, không hay khoe mẽ về mình dễ tranh thủ được sự giúp đỡ của người khác.
Tính nóng và cục tính. Chăm làm, khéo tay và quyết đoán, không nhún nhường. Công việc đối với họ là chính, tình cảm là chuyện thứ yếu nên họ khó lấy vợ. Tuổi Trâu hợp với tuổi Chuột, tuổi Gà.
Không nên lấy tuổi DOG và kỵ tuổi Lợn.

3. Tuổi Hổ:
Là người nhậy cảm, đa tình có đời sống nội tâm cao. Tuổi hổ trọng người ít tuổi. Quả cảm, kiên trì nhưng có vẻ ích kỷ. Tuổi này dủ vía, ma quỷ cũng phải tránh đường, do đó người xưa thường cầu mong trong gia đình có người tuổi Hổ. Tuổi Hổ hợp duyên với tuổi Ngựa và Rồng, khắc tuổi Trâu, Rắn, Khỉ.

4. Tuổi Mèo:
Là tuổi thành đạt, nhã nhặn, khiêm nhường, hiếu thảo và giao thiệp rộng. Đời nhiều may mắn nhưng hay ba hoa, ít cáu giận, dễ đi vào kinh doanh buôn bán. Chăm học, chăm đọc sách song ít tài năng đặc biệt. Rộng rãi trong giao tiếp song bảo thủ, so đo. Hợp với tuổi DOG, Dê, Lợn, khắc với tuổi Chuột, Gà và không hợp tuổi Rồng.

5. Tuổi Rồng:
Khỏe mạnh, năng nổ, xốc vác, dễ bị kích động, nói năng không thận trọng. Vừa ngang tàn vừa độ lượng dễ giàu và dễ có tiếng, dễ bị lôi kéo vào việc xấu. Tuổi này về già thì nhàn. Nên lấy người tuổi Chuột, Rắn, Khỉ, Gà. Tránh tuổi Rồng, Trâu, DOG.

6. Tuổi Rắn:
Khôn ngoan, có ý chí, gặp may nhiều và dễ thành đạt. Thích lòe loẹt, phô trương nhưng ích kỷ và keo kiệt, đa nghi. Họ rất thích khen nịnh lãng mạn. Phụ nữ tuổi Tỵ thường xinh đẹp "mỹ nhân tuổi Tỵ". Họ hợp tuổi Trâu, Gà, xung khắc với tuổi Hổ, Lợn.

7. Tuổi Ngựa:
Vui tính, nói nhiều, dễ nổi tiếng và dễ được cảm tình. Giỏi kinh doanh, giỏi đoán ý đồ của người khác để "lựa lời mà nói". Tuổi Ngựa nhiều tài nhưng khó tính, cầu kỳ trong ăn mặc, cầu toàn trong công việc nên họ coi tình yêu là thứ yếu. Họ hợp với tuổi Hổ, tuổi DOG, tuổi Dê. Kỵ tuổi Chuột.

8. Tuổi Dê:
Nhạy bén, tinh tế, nhiệt tình nhưng dễ thất vọng, bi quan. Cuộc đời ít gặp may. Đời sống vật chất tạm ổn. Họ hợp với tuổi Mèo, Lợn, Ngựa, không hợp tuổi Chuột, DOG, Trâu.

9. Tuổi Khỉ:
Thông minh, hiểu nhiều biết rộng nhưng không để tâm nhiều đến cống việc. Nhớ thì làm, quên thì cho qua luôn mặc dù khi xử lý công việc thì khá nhanh. Dễ hòa. nhập, quảng giao, trí nhớ tốt. Đường nhân duyên không lấy gì làm may mắn. Gặp tuổi Chuột hoặc tuổi Rồng thì tốt, gặp tuổi Lợn, Rân thì kém may mắn, gặp tuổi Hổ thì không tốt.

10. Tuổi Gà:
Tuổi bận rộn, lo toan, tham công tiếc việc, việc gì cũng muốn làm, dễ bi quan, thất vọng. Thích hoạt động xã hội. Tự tin nhưng lại ít tin người. Luôn luôn tỏ ra viển vông, kỳ cục. Tiêu pha hoang toàng nhưng thực thà trọng nghĩa. Hợp người tuổi Trâu, Rắn, Rồng. Tránh Tuổi Gà, Chuột, DOG. Kỵ nhất tuổi Mèo.

11. Tuổi Ch.ó:
Ngay thẳng, chân thành, biết mình, biết người, có đức tin và có độ tin cậy cao. Tuổi DOG ít giao du, sống kín đáo, bướng bỉnh, thẳng thắn, giỏi quản lý, giỏi hoạt động xã hội. Họ hợp tuổi Hổ, Mèo, Ngựa, không hợp tuổi Trâu, Gà, kỵ nhất tuổi Rồng, Dê.

12. Tuổi Lợn:
Kiên định, kiên trì, cuộc đời tuổi lợn mang tính mục đích rõ rệt. ít bạn nhưng có tình, sẵn sàng hy sinh vì bạn, ít nói nhưng kín đáo. Tuổi Lợn không thích cãi vã. Đường tình duyên không thuận. Họ hợp tuổi Mèo, Dê, tránh tuổi Khỉ, đại kỵ tuổi Rắn.
Mười hai con giáp là do người phương Đông xưa nghĩ ra, nhưng trải qua mấy nghìn năm lịch sử đã trở thành dấu ấn không phai trong tâm lý, tình cảm của con người. Hiện tượng văn hoá mười hai con giáp không chỉ ảnh hưởng tới một con người mà còn ảnh hưởng tới tâm lý, khí chất, nếp nghĩ, phong tục, tập quán của cả một cộng đồng, một dân tộc và trở thành nét văn hoá rất riêng của phương Đông.

Ron
02-11-09, 08:48 AM
MƯỜI HAI CON GIÁP VÀ VĂN HOÁ

Mười hai con giáp là nội dung quý giá trong kho tàng văn hóa phỏng sinh học Trung Quốc.
Những câu thành ngữ, câu nói vui, truyện ngụ ngôn và truyện thần thoại có nguồn gốc từ mười hai con giáp đã làm phong phú thêm kho tàng văn học, ngôn ngữ của Trung Quốc.

1. Rồng
Văn hoá rồng đã trở thành một trong những nội dung quan trọng trong nền văn hoá truyền thống Trung Quốc. Điệu múa rồng phấn chấn, hoành tráng, bức tranh rồng rực rỡ sáng đẹp và bức tượng rồng bay đều là kho tàng quý báu của văn hoá rồng.
Hàng trăm nghìn ngày nay, có không ít những câu truyện thần thoại, ngụ ngôn, những chuyện thú vị bắt nguồn từ rồng. Đại bộ phận những truyện này đều ca ngợi tính cách của rồng, cũng có chuyện là sự gửi gắm vào hình tượng Rồng, chẳng hạn như: mượn Rồng trừ ma quý, khấn Rồng cầu mưa, mượn Rồng để trả ơn, chinh phục Rồng ác, cầu Rồng trừ tà ma...
Truyền thuyết "Cá chép vượt cửa rồng" luôn luôn cổ vũ những người có chí nóng lòng muốn thử thách dù ở thời đại nào, cuốn "Cưỡi Rồng lên trời" lại kích thích tinh thần vươn lên của con người.
Những thành ngữ bắt nguồn từ Rồng cũng làm phong phú thêm ngôn ngứ văn học của Trung Quốc, chẳng hạn như: rồng cuốn hổ chồm, rồng cuộn phượng bay, khỏe như rồng như hổ, rồng bay phượng múa, đầm rồng hang hổ, tinh thần long mã... đều là những thành ngủ thường dùng đủ thấy ảnh hưởng của văn hóa rồng đối với văn hóa Trung Quốc.

2. Hổ:
Hổ có dáng vẻ uy vũ khiến người ta khiếp sợ nên hổ tượng trưng cho sự trấn áp như: nói đến cọp là tái cả mặt, cưỡi trên lưng cọp, thoát khỏi miệng hùm, rồng hàng phục hổ. "Hổ ngồi rồng cuộn" chỉ người anh tài sáng suốt, "mắt nhìn thèm thuồng như hổ đói, đầu hổ đuôi rắn, mình hổ thân gấu".
Những câu này đều chỉ đặc tính của hổ. Vì vậy người xưa thường dùng hổ để trừ ma tránh tà.

3. Rắn:
Trong các biểu tượng thì rắn là con vật thiêng rất được sùng bái. Từ thời Tam hoàng Ngũ đế mình rắn luôn được dùng để tượng trưng cho thần uy.
Những câu chuyện thần thoại về rắn rất phong phú, muôn hình, muôn vẻ. Có rất nhiều thành ngủ nói về rắn như: vẽ rắn thêm chân, nhìn bóng cung trong chén rượu tưởng là rắn...
Tuy trong thời cổ đại rắn thường được ví với con vật thiêng gây khiếp sợ nhưng trong văn học thì thường được dùng với nghĩa xấu như: đầu hổ đuôi rắn, biến thành rồng lên trời biến thành rắn luồn qua cỏ, rồng rắn lẫn lộn, độc ác như rắn...

4. Ngựa:
Ngựa tượng trưng cho sự mừng vui phơi phới, khí thế bừng bừng, ngựa có quan hệ mật thiết với cuộc sống nhân dân Trung Quốc. Người Trung Quốc thích khí chất của ngựa, sự gánh vác của ngựa, hình tượng ngựa. Ở Trung Quốc đã xuất hiện rất nhiều kiệt tác hội họa, điêu khắc mô tả về ngựa.
Tranh ngựa của Từ Bi Hồng nổi tiếng khắp Trung Quốc và thế giới.
Các thành ngữ nói về ngựa rất nhiều: kìm ngựa trước vực thẳm, một con ngựa làm hại cả đàn, cưỡi ngựa xem hoa, chỉ hươu thành ngựa, không phải lừa cũng chăng phải ngựa, ngựa già biết đường, thiên quân vạn mã, ngựa xe như nước. .. Thành ngữ về ngựa quả là vô cùng phong phú.

5. Trâu:
Ngoài việc là biểu tượng được sùng bái thời cổ, trâu còn liên quan mật thiết đến cuộc sống của nhân dân Trung Quốc, trâu có đặc tính cần cù chịu khó, chịu mệt nhọc, trung hậu. Những bức tranh trâu, tượng trâu đều lấp lánh màu sắc văn hóa nghệ thuật. Trong Di Hòa Viên ở Bắc Kinh có bức tượng trâu bằng đồng rất nổi tiếng. Ai cũng biết câu chuyện thần thoại đẹp "Ngưu lang chức nữ" thật rung động lòng người. Tính khiêm nhường trong cuộc sống, âm thầm dâng hiến của trâu tạo nên điều cốt lõi trong văn hóa về trâu. Những thành ngữ, câu nói về trâu có rất nhiều, như: đầu trâu mặt ngựa, đầu trâu không đi với mõm ngựa dùng dao mổ trâu cắt tiết gà, sức chín trâu hai hổ, nhiều như lông trên mình trâu. . .

6. Dê:
Dê có quan hệ rất mật thiết tới đời sống nhân dân vùng đồi núi. Phỏng sinh học về dê chủ yếu mô tả đặc điểm ôn hòa, hiền lành của nó. Ví dụ như: yếu như con cừu (dê), dê non lạc đường...
Những thành ngữ về dê rất nhiều: mất dê mới lo làm chuồng, treo đầu dê bán thịt ***, mỹ tửu Dương Cao, đường kỳ sơn mất dê...

7. Mèo:
Từ rất sớm trong lịch sử, mèo đã là vật nuôi thân thiết của con người. Mèo tượng trưng cho sự dịu dàng, hoà bình bình yên, nhanh nhẹn, khôn khéo, nhưng cũng rất kiên cường khi cần bảo vệ lãnh thổ của mình. Tranh ảnh, tượng về mèo rất phong phú đa dạng mang đậm sắc thái nghệ thuật đẹp đẽ. Trang văn học dân gian có rất nhiều câu chuyện về loài mèo: con mèo *** trèo cây cau...

8. Khỉ:
Khỉ thông minh, nhanh nhẹn, giỏi bắt chước. Vì vậy, phỏng sinh học về khỉ chủ yếu là nhấn mạnh đặc điểm nhanh nhạy. Ví dụ: tinh nhanh như khỉ, khi bốc ngô, Tôn Ngộ Không đại náo thiên cung,
Tôn Ngộ Không lộn nhào, khỉ ngồi cáng tre. Ngoài ra, còn có câu: cây đổ thì đàn khỉ cũng tan.

9. Ch.ó:
Ch.ó là loài được con người thuần dưỡng đầu tiên. Ch.ó làm được nhiều việc như: giữ nhà, đi săn nhất là tấm lòng trung thành với chủ. Nhưng trong văn học, ch.ó lại thường bị dùng với nghĩa xấu, ví dụ như: ch.ó cậy gần nhà, ch.ó là đồ vô tích sự, ch.ó nhà có tang, ch.ó không bỏ được thói ăn phân, ch.ó dại cắn người... Thành ngữ về ch.ó có những câu như: ch.ó cùng rút giậu, ch.ó ghẻ, ch.ó săn, chửi gà mắng ch.ó, trộm gà bắt ch.ó... Tuy những câu này đối với
Ch.ó là không công bằng song chúng lại có tác dụng làm phong phú ngôn ngữ Trung Quốc.

10. Lợn:
Nói đến phỏng sinh học về lợn, không thể không nói đến kiệt tác "Tây Du ký" của Ngô Thừa ân, ông đã khắc họa đậm nét và rất thành công tính cách tham ăn, lười biếng nhưng rất thật thà đáng yêu của nhân vật Trư Bát Giới. Cũng chịu ảnh hưởng từ đó, lợn trở thành tử để chỉ loài vật tham ăn, lười biếng. Những câu nói bỏ lửng về lợn cũng rất thú vị như: Trư Bát Giới soi gương (trong ngoài đều không phải là người), Trư Bát Giới ăn quả nhân sâm (thực bất chi kỳ vị), Trư Bát Giới cài hoa (không tự thấy xấu mặt), Trư Bát Giới múa đinh ba.

11. Gà:
Gà là vật quý của nhà nông, có mối quan hệ mật thiết với đời sống con người, là đồng hồ tự nhiên của nhà nông. Từ thời cổ nhà nông đã nghe tiếng gà gáy báo sáng để dậy làm việc, đến khi gà lên chuồng mới nghỉ công việc. Thành ngữ về gà cũng rất nhiều, như: Lông gà vỏ tỏi, gà bay trứng vỡ, gà bay *** nhảy, gà *** không yên, da gà lông ngỗng, gà nhúng nước...

12. Chuột:
Truyền thuyết kể rằng chuột vốn không có tên trong mười hai con giáp, đáng ra là mèo, nhưng một lần đức Phật Như Lai triệu tập mười hai con vật đến, vì mèo đến chậm nên chuột thừa cơ đứng lên trước thế là thành ra đứng đầu mười hai con giáp. Chuột nhanh nhẹn, giảo hoạt, có khả năng thích ứng cao, hay ăn vụng, tầm nhìn lại hạn hẹp nên những câu nói về chuột đều có nghĩa xấu. Ví dụ: "Rồng sinh rồng, phượng sinh phượng, chuột sinh con để đào hang đất", "Phân một con chuột làm hỏng cả nồi canh", mèo khóc chuột" (giả từ bi), "Tầm nhìn hạn hẹp như chuột", "Gan bé như gan chuột "ôm đầu mà lủi như chuột"... .

Tóm lại, văn hóa phỏng sinh mười hai con giáp có nội dung rất phong phú, có ảnh hưởng sâu sắc tới văn hóa, phong tục, luân lý tín ngưỡng của người Trung Quốc và có đóng góp nhiều vào việc làm phong phú thêm ngôn ngữ của Trung Quốc.